Trang Chủ Các bệnh ung thư Ung thư đại tràng Tỷ lệ bệnh ung thư đại trực tràng ngày một gia tăng

Tỷ lệ bệnh ung thư đại trực tràng ngày một gia tăng

Tỷ lệ mắc bệnh ung thư đại trực tràng của nước ta cao thứ 3-4 và vẫn đang có xu hướng tiếp tục gia tăng mạnh. Cần có giải pháp lâu dài cho tình trạng này. Thông tin trên được cung cấp bởi Chủ tịch chi hội Hội Nội soi tiêu hoá miền Nam, trưởng khoa nội soi BV Đại học Y Dược TP. HCM, Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ Nguyễn Thuý Oanh.

Có 219 bệnh nhân đã tham gia khảo sát về ung thư đại – trực tràng của Bệnh viện Đại học Y dược TP. HCM. Tỷ lệ bệnh nhân mắc căn bệnh này ước tính đến 7,3%. Tuy nhiên, các bệnh nhân được nghi ngờ có biểu hiện của bệnh ung thư đại – trực tràng vẫn e ngại chưa đi khám.

“Ở giai đoạn sớm, ung thư đại – trực tràng phát triển rất âm thầm, không có triệu chứng trong nhiều năm nên rất lý tưởng để ngăn chặn triệt căn” PGS.TS.BS Nguyễn Thúy Oanh

Tỷ lệ ung thư đạt trực tràng đang ngày càng gia tăng

Khảo sát trên nằm trong đề án nghiên cứu khoa học cấp thành phố giai đoạn 1 do khoa nội soi của Bệnh viên Đại học Y dược TP thực hiện. Các bệnh nhân được chọn trong nhóm khảo sát trên đều có các biểu hiện như đau bụng, đi ngoài, táo bón, hoặc cả táo bón và đi ngoài xen kẽ, đại tiện ra máu, giảm cân,… (khoảng trên 69%). Kết quả khảo sát phát hiện 31,5% bệnh nhân có triệu chứng bất thường, 25,1% có polyp (u lồi trong lòng đại – trực tràng), 10,5% bị đa polyp và 7,3% ung thư giai đoạn sớm.

Bệnh ung thư đại – trực tràng thường gặp ở người trên 50 tuổi

Phó giáo sư Thuý Oanh cho biết, dấu hiệu bệnh ung thư đại – trực tràng đa số bắt đầu hình thành từ lớp niêm mạc ở thành ruột rồi bắt đầu lan tiếp sang các lớp khác. Có tới 95% tế bào của người bệnh là tế bào ung thư tuyến. Ban đầu, bệnh thường hình thành polyp ở đại – trực tràng, poplyp này sẽ biến chứng thành tế bào ung thư nếu như không điều trị kịp thời.. Do polyp là mầm ung thư nên việc phát hiện và cắt polyp qua nội soi là cách phòng ngừa ung thư đại – trực tràng hiệu quả nhất và bệnh nhân không phải hóa trị, xạ trị sau cắt polyp.

Bệnh ung thư đại trực tràng giai đoạn đầu thường diễn biến khá âm thầm và không có biểu hiện rõ ràng, do vậy việc ngăn chặn triệt để căn bệnh là điều không dễ dàng. Khi bệnh có những biểu hiện như khối u lớn ở hậu môn, khối u to gây tắc ruột, bướu lớn xâm lấn, phát hiện hạch di căn,… dễ thấy bằng mắt thường thì bệnh đã bước sang giai đoạn cuối.

90% bệnh nhân phát hiện bệnh trong giai đoạn đầu và điều trị kịp thời có thể sống được hơn 5 năm, nếu như để đến giai đoạn cuối thì tỷ lệ này chỉ còn khoảng 9%. Nguy cơ bị ung thư đại trực tràng ở người trên 50 tuổi không cao bằng người có polyp đại trực tràng lớn hơn 1cm, không cuống, nghịch sản; có viêm loét đại – trực tràng trên tám năm; người sau cắt đại tràng do loét.

Ngoài ra, những người bị hội chứng đa polyp di truyền cũng có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư đại – trực tràng. Ngoài ra, có một nhóm khác có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng cao đó là nhóm mắc hội chứng Lynch 1(nhóm có cùng huyết thống bị ung thư đại trực tràng) hoặc nhóm người mắc hội chứng Lynch 2( người có cùng huyết thống bị ung thư đại trực tràng hoặc ung thư dạ dày, hệ niệu, buồng trứng, phổi, gan,…)

Tầm soát  ung thư đại trực tràng định kỳ

Phó giáo sư Thuý Oanh khuyên rằng, để tránh những biến chứng dẫn đến tàn phế hay việc điều trị với chi phí cao, bệnh nhân nên tầm soát trước khi bệnh có triệu chứng. Khi bắt đầu bước sang tuổi 50, người dân nên thực hiện tầm soát ung thư – đại trực tràng định kỳ bằng cách xét nghiệm máu vi thể trong phân hàng năm, nội soi trực tràng, đại tràng chậu hông 5 năm một lần, nội soi toàn bộ đại tràng hoặc chụp X-quang đại tràng cản quang khoảng 10 năm 1 lần.

Với những người đã từng có tiền sử cắt bỏ polyp cần phải theo dõi tình trạng bệnh mỗi tháng trong ba tháng đầu sau phẫu thuật, hai lần định kỳ trong sáu tháng tiếp theo, trong năm thứ hai cần được kiểm tra sáu tháng một lần, và từ năm thứ ba trở đi nên kiểm tra ba năm một lần. Bệnh nhân sẽ  được bác sĩ cho tầm soát bằng cách tìm máu ẩn trong phân, nội soi trực tràng – đại tràng chậu hông, nội soi đại tràng, chụp X-quang đại tràng cản quang; nội soi đại tràng ảo, xét nghiệm gen K-ras trong phân. Trong đó nội soi đại – trực tràng là “tiêu chuẩn vàng” để định bệnh và điều trị sớm…

Nếu như phát hiện có triệu chứng tiêu ra máu, đờm nhớt, bị rối loạn tiêu hoá kéo dài hay thường xuyên thiếu máu, chóng mặt, chán ăn, giảm cân,… nên đi nội soi sớm nhất có thể, đặc biệt với người ngoài 50 tuổi hoặc trong gia đình đã có người bị ung thư đại trực tràng hoặc bệnh ung thư khác.

PGS Thuý Oanh cũng cho biết, để phòng bệnh ung thư đại trực tràng hiệu quả, chúng ta nên ưu tiên thực phẩm thực vật, kiểm soát lượng thịt mỡ động vật trong chế độ ăn, ăn nhiều trái cây, rau xanh, rau cải hàng ngày, có thể sử dụng thêm một số loại vitamin chứa acid folic, canxi và nên thực hiện hoạt động thể chất khoảng 30 phút mỗi ngày.

Nguồn

http://plo.vn/suc-khoe/dinh-duong/ung-thu-dai-truc-trang-co-xu-huong-tang-84142.html

Nguyễn Hạnh
Từ khóa: , ,
Ngày: 03-05-2017